MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC DƯ LUẬN XÃ HỘI

 

I- KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ DƯ LUẬN XÃ HỘI

1- Khái niệm dư luận xã hội

Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm của nhiều người.

* Một số lưu ý:

- Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau;

- Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

- Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến).

- Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…).

- Dư luận xã hội không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định.

- Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự, liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người mới có khả năng tạo ra dư luận xã hội.

2- Các thuộc tính của dư luận xã hội.

- Khuynh hướng: Là thái độ của dư luận xã hội thiên về một phía nào đó đối với mỗi sự kiện, hiện tượng; gồm các khuynh hướng chủ yếu: tán thành, phản đối hay băn khoăn, lưỡng lự, chưa rõ thái độ. Cũng có thể phân chia dư luận theo các khuynh hướng như tích cực, tiêu cực; tiến bộ, lạc hậu, “cấp tiến”, “bảo thủ”…

- Cường độ: Là độ mạnh, sức căng của mỗi khuynh hướng. Ví dụ, khuynh hướng phản đối có thể biểu hiện ở các sức căng khác nhau: phản đối gay gắt; phản đối, nhưng không gay gắt…

- Sự thống nhất và xung đột của dư luận xã hội: Theo các nhà xã hội học, đồ thị phân bố dư luận xã hội hình chữ U (có hai luồng ý kiến chính, trái ngược nhau, tỷ lệ ủng hộ mỗi luồng ý kiến này ngang bằng hoặc xấp xỉ nhau) biểu thị sự xung đột, hình chữ L (trong số các luồng ý kiến, nổi lên một luồng ý kiến được đa số ủng hộ) biểu thị sự thống nhất cao.

- Tính bền vững:Có những dư luận xã hội chỉ qua một đêm là thay đổi, nhưng cũng có những dư luận hàng chục năm không thay đổi.

- Sự tiềm ẩn:Dư luận xã hội về những vấn đề của cuộc sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời.

3- Chức năng của dư luận xã hội.

- Chức năng đánh giá: Dư luận xã hội thể hiện thái độ phán xét, đánh giá của công chúng đối với các sự kiện, hiện tượng, sự vật, vấn đề cuộc sống…

- Chức năng điều tiết các mối quan hệ xã hội:Dư luận xã hội rất nhạy cảm với các hành vi xâm phạm lợi ích chung, lợi ích của toàn xã hội nhất là hành vi của các phần tử, các nhóm cực đoan, lên án kịp thời và gay gắt các hành vi này; quan tâm đến các hành vi có lợi cho toàn xã hội, kịp thời cổ vũ các cá nhân, nhóm xã hội, thực hiện các hành vi này.

- Chức năng giáo dục của dư luận xã hội:Bằng sự khen, chê, khuyên can kịp thời đối với các hành vi phù hợp hoặc không phù hợp với lợi ích, các giá trị xã hội, nhất là các giá trị đạo đức, luân lý, dư luận xã hội có vai trò rất lớn trong việc giáo dục cho các thế hệ ý thức về sự phải-trái, đúng-sai, thiện-ác, đẹp-xấu.

- Chức năng giám sát:Dư luận xã hội có vai trò giám sát hoạt động của nhà nước và các tổ chức xã hội, gây sức ép lớn đối với tệ tham nhũng, quan liêu, tắc trách.

- Chức năng tư vấn, phản biện:Trước những vấn đề nan giải của đất nước, địa phương dư luận xã hội có thể đưa ra những khuyến nghị sáng suốt mà các cơ quan tham mưu cho chính quyền có thể chưa nghĩ ra được. Dư luận xã hội cũng có khả năng đưa ra các ý kiến phản biện xác đáng đối với các quyết định của các cơ quan đảng, chính quyền, tổ chức chính trị-xã hội.

- Chức năng giải toả tâm lý xã hội:Sự bất bình, các nỗi oan ức của con người, nếu không được giãi bày, nói ra có thể trở thành những mầm mống bệnh hoạn nghiêm trọng về tinh thần. Sự giãi bày, bày tỏ thành lời có thể giải toả nỗi bất bình, uất ức của con người.

4- Phân biệt giữa dư luận xã hội và tin đồn

- Giống nhau về hình thức thể hiện:

+ Đều là những kết cấu tinh thần; tâm lý đặc trưng cho những nhóm xã hội nhất định.

+ Có chung nguồn gốc xuất phát từ sự kiện có thật.

+ Đều lan truyền nhanh và dễ biến dạng.

- Khác nhau:

DƯ LUẬN XÃ HỘI

TIN ĐỒN

- Về nguồn gốc:

 

Xuất phát từ sự kiện có thật nên mức độ sự thật nhiều hơn.

Xuất phát từ sự kiện có thật bị làm méo mó đi, hoặc do chủ thể truyền tin tưởng tượng ra nên mức độ sự thật rất ít.

- Về cơ chế hình thành:

 

Được hình thành thông qua giao tiếp, trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân: quan điểm cá nhân chỉ là một ý kiến trong ý kiến chung.

Bị nhào nặn hoặc bị bóp méo bởi khuynh hướng cá nhân người truyền tin.

- Về phương thức lan truyền:

 

Lan truyền bằng lời nói, chữ viết theo đường chính thức, không chính thức công khai, bí mật.

Lan truyền bằng miệng là chính, theo con đường chính thức, không chính thức, bí mật.

- Về bản chất:

 

Là sự phán xét đánh giá chung, biểu thị thái độ đồng tình hay phản đối của đại đa số trong cộng đồng đối với sự kiện, hiện tượng.

Chỉ là thông tin đơn thuần về sự việc hiện tượng theo lối mô tả, kể lại.

II- CÁC PHƯƠNG PHÁP NẮM BẮT DƯ LUẬN XÃ HỘI

1- Các phương pháp nắm bắt thông tin định tính.

Thông tin định tính cho chúng ta biết có những loại ý kiến, thái độ gì xung quanh các vấn đề, sự kiện, hiện tượng mà công chúng đang quan tâm.

Các phương pháp nắm bắt thông tin định tính chủ yếu là phỏng vấn nhóm tập trung và phỏng vấn sâu.

­- Phỏng vấn nhóm tập trung:

Phỏng vấn nhóm tập trung là loại phỏng vấn nhằm vào các đối tượng là những nhóm nhỏ với những đặc trưng nhất định. Mục đích chính của phỏng vấn nhóm tập trung là tìm hiểu các loại ý kiến, thái độ của các thành viên trong nhóm về vấn đề, hiện tượng, sự kiện mà cán bộ làm công tác nghiên cứu dư luận xã hội quan tâm.

Thông thường nhóm tập trung gồm từ 8 đến 12 thành viên, đồng nhất theo một đặc điểm nào đó (giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, học vấn…). Điều này cho phép chúng ta hiểu rõ được sự ảnh hưởng của đặc điểm đó đến dư luận của nhóm. Các thành viên của nhóm tập trung cần phải có kinh nghiệm, hiểu biết đối với vấn đề tranh luận.

- Phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn sâu là hình thức phỏng vấn tay đôi, chỉ có hai người: người phỏng vấn và người được phỏng vấn. Thông qua các câu hỏi (thông thường không cần chuẩn bị trước; theo chủ đề nghiên cứu và tuỳ theo nội dung câu trả lời của người được phỏng vấn, người phỏng vấn có thể đặt ra các câu hỏi khác nhau), người làm công tác nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội có thể làm rõ được suy nghĩ, thái độ của người được phỏng vấn đối với các vấn đề, sự kiện, hiện tượng đang diễn ra.

2- Các phương pháp nắm bắt thông tin định lượng

Trong nghiên cứu dư luận xã hội, thông tin định lượng là loại thông tin cho phép chúng ta xác định số lượng (thường được tính dưới dạng tỷ lệ) của các loại ý kiến, thái độ của công chúng trước các vấn đề, sự kiện hiện tượng xã hội mà công chúng quan tâm.

- Phương pháp phân tích nội dung:

Phương pháp này được sử dụng khi chúng ta có trong tay một số lượng lớn các tài liệu cùng loại, được soạn thảo trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ, có tất cả các số báo của một tờ báo nào đó hoặc tất cả các đơn thư khiếu nại, tố cáo mà hàng ngày nhân dân gửi đến các cơ quan chức năng của Nhà nước trong một khoảng thời gian dài.

Bản chất của phương pháp này là lượng hoá các phạm trù, các vấn đề, nội dung mà các tài liệu này đề cập trong từng khoảng thời gian nhất định (từng tuần, từng tháng hoặc từng năm), từ đó rút ra các kết luận về “chất” đối với các nội dung, phạm trù, vấn đề đó.

- Phương pháp điều tra xã hội học

Điều tra xã hội học về dư luận xã hội là phương pháp nắm bắt dư luận xã hội khoa học, có độ tin cậy cao, cho phép chúng ta xác định tỷ trọng số người (trong một cộng đồng, nhóm xã hội nhất định) có chung nhận thức, thái độ về một sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội nào đó mà chúng ta quan tâm.

Các khâu quan trọng nhất trong một cuộc điều tra xã hội học về dư luận xã hội là: 1) Xây dựng phiếu câu hỏi phỏng vấn; 2) Chọn mẫu; 3) Tiến hành phỏng vấn trên thực địa; 4) Xử lý, phân tích kết quả.

Các yêu cầu cơ bản nhất đối với phiếu câu hỏi là tính nhất quán và tính sát thực; đối với khâu chọn mẫu là tính đại diện; đối với khâu phỏng vấn trên thực địa là phải đúng đối tượng, đúng thời gian quy định, trả lời đầy đủ các câu hỏi; đối với khâu xử lý, phân tích kết quả là các dữ liệu phải có ý nghĩa thống kê.

3- Nắm bắt dư luận xã hội thông qua mạng lưới cộng tác viên.

a- Nội dung yêu cầu:

Nắm bắt dư luận xã hội thông qua mạng lưới cộng tác viên là một hình thức thu thập thông tin dư luận xã hội chủ yếu hiện nay. Để nắm bắt dư luận xã hội qua mạng lưới cộng tác viên, cần tiến hành các bước: (1) Tổ chức mạng lưới cộng tác viên; (2) Xây dựng quy chế hoạt động của mạng lưới cộng tác viên; (3) Duy trì hoạt động của mạng lưới cộng tác viên; (4) Tổng hợp thông tin, viết báo cáo nhanh tình hình dư luận phản ánh từ mạng lưới cộng tác viên.

Yêu cầu đối với cộng tác viên, ngoài những phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị phải là người có giao tiếp rộng rãi, am hiểu tâm tư, nguyện vọng của một tầng lớp xã hội hoặc nhóm công chúng nhất định nào đó. Cộng tác viên cần có một số phẩm chất cơ bản sau: (1) Có tâm huyết với đất nước, dân tộc; (2) Trung thực; (3) Đại diện của một tầng lớp, nhóm xã hội nhất định (có giao tiếp rộng rãi trong tầng lớp, nhóm xã hội mà họ là thành viên).

Những tầng lớp, nhóm xã hội cơ bản cần có cộng tác viên là: (1) Công nhân; (2) Nông dân; (3) Cán bộ, công chức đương chức; (4) Cán bộ hưu trí; (5) Văn nghệ sỹ, trí thức; (6) Doanh nhân; (7) Thanh, thiếu niên; (8) Nhóm những người lao động tự do…

b) Các hình thức tổ chức mạng lưới cộng tác viên.

- Cộng tác viên công khai (do các cơ quan, đoàn thể, hiệp hội các cấp cử ra); có ưu điểm phản ánh nhanh, trung thực dư luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn hoạt động của mình trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng. Tuy nhiên, có hạn chế là thường né tránh hoặc không dám phản ánh những dư luận gai góc có liên quan đến ngành, địa phương, đơn vị mình.

- Cộng tác viên đơn tuyến (do đầu mối làm công tác dư luận của địa phương tuyển chọn, các cơ quan, đoàn thể, chính quyền, nơi quản lý cộng tác viên này không biết đó là cộng tác viên dư luận xã hội của đầu mối nắm bắt dư luận xã hội bên trên).

Mỗi mảng hoạt động của hai loại cộng tác viên nói trên có những ưu, nhược điểm khác nhau, tuy nhiên chúng có thể bổ sung cho nhau. Cộng tác viên đơn tuyến sẽ khắc phục hạn chế của cộng tác viên công khai.

c- Xây dựng Quy chế hoạt động của cộng tác viên.

- Căn cứ xây dựng quy chế: Các văn bản pháp lý quy định về chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của cơ quan đầu mối nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội.

- Nhiệm vụ và quyền hạn của cộng tác viên:

Các nhiệm vụ chủ yếu là: kịp thời nắm bắt và phản ánh dư luận của các tầng lớp xã hội trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội; tham gia định hướng dư luận xã hội; tham gia triển khai các cuộc điều tra dư luận xã hội.

Quyền hạn của cộng tác viên là: được phản ánh trực tiếp cho đầu mối những thông tin mà mình nắm được; có thể đề nghị được gặp các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng và gặp gỡ các đối tượng cán bộ, nhân dân trên địa bàn hoạt động của mình để nghiên cứu và thu thập DLXH; có quyền cung cấp hoặc không cung cấp tên người phản ánh thông tin cho mình.

- Phương thức hoạt động của cộng tác viên: Cộng tác viên trực tiếp nắm bắt hoặc dựa vào mạng lưới riêng của mình để nắm bắt, thu thập DLXH. Cộng tác viên phản ánh thông tin thông qua các hình thức: trao đổi trực tiếp, qua điện thoại hoặc báo cáo bằng văn bản (đột xuất và theo định kỳ).

- Chế độ đối với cộng tác viên: các quy định về chế độ được đề ra trên cơ sở  kính phí hoạt động thường xuyên hàng năm và các điều kiện thực tế khác của cơ quan đơn vị.

d- Điều hành hoạt động của mạng lưới cộng tác viên.

- Duy trì giao ban theo định kỳ

Thông tin cho cộng tác viên những vấn đề có tính thời sự mà cộng tác viên cần biết để nắm và định hướng dư luận xã hội.

Phản ánh dư luận của cộng tác viên: Các cộng tác viên phản ánh những dư luận nổi lên mà họ nắm được.

- Duy trì nề nếp phản ánh thông qua hình thức báo cáo bằng văn bản theo định kỳ

Thường xuyên đôn đốc gửi báo cáo phản ánh về tình hình dư luận xã hội và chủ động định hướng các nội dung cần nắm bắt.

- Duy trì hình thức phản ánh nhanh qua điện thoại

Cần chủ động gọi điện cho cộng tác viên để nắm bắt nhanh dư luận về những vấn đề, sự kiện, hiện tượng mà dư luận xã hội quan tâm. Có thể chỉ đạo mạng lưới cộng tác viên phỏng vấn nhanh qua điện thoại các đối tượng thuộc phạm vi nắm bắt của mình đối với những vấn đề, sự kiện, hiện tượng này.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cộng tác viên

Tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cộng tác viên: Chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho mạng lưới cộng tác viên. Tổ chức giao lưu trao đổi, học hỏi, toạ đàm rút kinh nghiệm về chuyên môn nắm bắt dư luận xã hội cho cộng tác viên.

 Bổ sung, luôn phiên, thay thế cộng tác viên: Trong quá trình hoạt động, có biến động về cộng tác viên cần kịp thời thay thế, bổ sung.

Tổng kết, sơ kết hoạt động của mạng lưới cộng tác viên: Hàng năm, nên tiến hành hội nghị sơ kết và tổng kết biểu dương khen thưởng các cộng tác viên hoạt động tích cực, có hiệu quả, nhắc nhở cộng tác viên hoạt động kém hiệu quả.

- Tổng hợp thông tin, viết báo cáo nhanh tình hình dư luận xã hội phản ánh từ mạng lưới cộng tác viên

Báo cáo phải ngắn gọn, cô đọng, gồm 2 phần: phần phản ánh dư luận xã hội và phần đề xuất kiến nghị định hướng dư luận xã hội. Phần phản ánh, nêu các dư luận tích cực trước, các dư luận “trái tai”, “gai góc”, không thuận được trình bày sau;

Nêu được những thông tin dư luận một cách đầy đủ, nhiều chiều, không bỏ sót luồng ý kiến nào, kể cả của nhóm thiểu số trong xã hội;

Làm rõ mức độ phổ biến của dư luận xã hội, nắm bắt phản ánh một cách tương đối như: luồng dư luận đó là ý kiến của một số nhỏ, một bộ phận khá đông hay của đa số trong xã hội (hoặc trong một cộng đồng, nhóm xã hội);

Cần làm rõ chủ thể chủ yếu của mỗi luồng dư luận xã hội, thường là các tầng lớp, nhóm xã hội có sự tương đồng về nhận thức hoặc lợi ích trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội.

III- NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA CÔNG TÁC DƯ LUẬN XÃ HỘI

1- Tham mưu tổ chức điều tra, nắm bắt, xử lý và định hướng dư luận xã hội phục vụ quá trình ra quyết định của các cơ quan lãnh đạo, quản lý.

Dư luận xã hội, là nguồn thông tin phản hồi có vai trò rất quan trọng đối với quá trình ban hành, tổ chức thực hiện, bổ sung, sửa đổi các quyết định lãnh đạo, quản lý xã hội. Để có được những quyết định đúng đắn, các cơ quan lãnh đạo, quản lý cần nắm chắc được tâm trạng, suy nghĩ, nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, đối tượng mà các quyết định nhằm vào. Xã hội ngày càng phát triển thì nhân tố “lòng dân” càng quan trọng. Mọi chủ trương, quyết sách của các cơ quan lãnh đạo, quản lý sẽ khó trở thành hiện thực nếu không hợp lòng dân, không được nhân dân ủng hộ.

Để nâng cao hiệu quả của công tác lãnh đạo, quản lý xã hội, cần phải coi điều tra xã hội học về dư luận xã hội là một khâu thiết yếu trong quy trình ban hành và thực hiện các chủ trương, quyết sách.

2- Tổ chức điều tra, nắm bắt, xử lý và định hướng dư luận xã hội để nâng cao hiệu quả của công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội.

Tổ chức điều tra, nắm bắt, xử lý và định hướng dư luận xã hội để đánh giá hiệu quả của công tác thông tin, tuyên truyền.

Một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả của công tác thông tin, tuyên truyền là hình thức thông tin độc thoại, không tính toán đến phản ứng của người nghe.

Để nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, ban tuyên giáo cần chủ động sử dụng các phương pháp nắm bắt dư luận xã hội khoa học để nắm bắt phản ứng của công chúng trước các hình thức, cách thức, nội dung thông tin, tuyên truyền.

3- Tổ chức điều tra, nắm bắt, xử lý và định hướng dư luận xã hội để giải quyết các mâu thuẫn, xung đột, các điểm nóng trong xã hội.

Một trong những nguyên nhân làm xuất hiện các điểm nóng, các vụ “phản ứng tập thể” của nhân dân là do các cấp lãnh đạo không lắng nghe dư luận xã hội, không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, hoặc do bị cấp dưới, vì năng lực yếu kém, không nắm bắt được hoặc xuất phát từ những lợi ích cá nhân, cục bộ, cố tình bưng bít thông tin, phản ánh sai lệch những vấn đề tâm trạng, tư tưởng của các tầng lớp nhân dân.

Thiết chế nghiên cứu dư luận xã hội nhờ có những quy chế về cung cấp thông tin và những phương pháp nắm bắt dư luận, tâm trạng, tư tưởng khách quan, khoa học, có thể khắc phục những căn bệnh nói trên.

4- Tổ chức điều tra, nắm bắt, xử lý và định hướng dư luận xã hội để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội

Tham mưu tổ chức điều tra dư luận xã hội để đánh giá hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng, tệ nạn xã hội.

Để nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, các tệ nạn xã hội, việc sơ kết, tổng kết, thường xuyên đánh giá hiệu quả của công tác này có ý nghĩa rất quan trọng. Nhân dân là “nạn nhân” trực tiếp của nạn tham nhũng, tiêu cực, các tệ nạn xã hội, do đó, sự đánh giá của nhân dân, dư luận xã hội về hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội nói chung, các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội nói riêng là rất đáng tin cậy.

Tổ chức điều tra, nắm bắt dư luận xã hội để đề ra các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội có tính khả thi cao

Các phương pháp nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội, đặc biệt là phương pháp điều tra xã hội học có thể được coi như là một trong những phương thức phát huy sáng kiến, trí tuệ của tập thể, của nhân dân nhằm tìm ra các giải pháp phòng chống tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội sát thực, hữu hiệu, có tính khả thi. Nhân dân, dư luận của nhân dân còn có một vai trò rất quan trọng khác, đó là vai trò phản biện đối với các giải pháp phòng chống tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội mà các cơ quan chức năng đề ra. Nếu lắng nghe dư luận xã hội thì các cơ quan chức năng có khả năng sớm phát hiện ra những hạn chế, yếu kém của các giải pháp phòng chống tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội mà mình đã đề ra để kịp thời khắc phục.

- Sử dụng dư luận xã hội gây sức ép đối với nạn tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội khác

Dư luận xã hội có áp lực rất lớn đối với mọi cá nhân cũng như tổ chức xã hội. Có cá nhân, do lạm dụng quyền lực, tự cho mình đứng trên pháp luật, không ngại các cơ quan pháp luật, nhưng vẫn không dám coi thường báo chí và dư luận xã hội, luôn tìm cách bưng bít thông tin, tránh né báo chí và dư luận xã hội.

Sự thông tin kịp thời trên báo chí và thái độ của dư luận xã hội đối với các vụ việc, biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, suy thoái đạo đức, lối sống; sẽ thôi thúc các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

5- Tổ chức điều tra, nắm bắt, xử lý và định hướng dư luận xã hội để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục luân thường, đạo lý trong xã hội.

- Tiến hành các cuộc điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm nhằm làm rõ nguyên nhân và các giải pháp khắc phục sự suy thoái đạo đức trong xã hội.

- Tham mưu sử dụng dư luận xã hội để hình thành, củng cố các giá trị luân thường, đạo lý trong xã hội.

- Tham mưu định hướng dư luận xã hội để ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi, biểu hiện suy thoái luân thường, đạo lý trong xã hội./.

BAN TUYÊN GIÁO ĐẢNG ỦY KHỐI