MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHIỆP VỤ TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

I- NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG.

1- Khái niệm tuyên truyền miệng

Tuyên truyền miệng (TTM) là một phương thức tuyên truyền được tiến hành bằng lời nói trực tiếp nhằm mục đích nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ tính tích cực hành động của người nghe.

Như vậy, TTM là một hình thức tuyên truyền đặc biệt mà phương thức chủ yếu được tiến hành thông qua sự giao tiếp bằng lời nói trực tiếp giữa người nói (nhà tuyên truyền) với người nghe (đối tượng tuyên truyền) mà không có sự ngăn cách nào nhằm nâng cao nhận thức; củng cố và xây dựng niềm tin, cổ vũ mọi người suy nghĩ và hành động theo những yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ tuyên truyền đặt ra. Bản chất của hình thức công tác này là hoạt động tuyên truyền; chẳng những là tuyên truyền trước tập thể mà còn tuyên truyền từng người, từ người này sang người khác, không chỉ là một bài nói chuyện, phát biểu trước mọi người.

Khái niệm TTM trong công tác tư tưởng được hiểu ở nhiều phương diện khác nhau do cách tiếp cận khác nhau. Có lúc TTM được hiểu như một bộ phận của công tác tư tưởng. Có lúc TTM lại được hiểu như một hình thức tuyên truyền.

Ngoài khái niệm TTM trên các sách báo và trong thực tế, chúng ta còn bắt gặp một số khái niệm gần nghĩa có liên quan như: hùng biện, diễn thuyết, phát biểu miệng, truyền thông bằng lời nói trực tiếp.

2- Vị trí, vai trò của công tác TTM

a- Vị trí của TTM:

Tuyên truyền miệng là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất của công tác tư tưởng; là công cụ quan trọng hàng đầu nhằm tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách, truyền bá những quan điểm của Đảng, đưa tiếng nói của Đảng đến quần chúng nhân dân.

b- Vai trò của TTM:

- Góp phần truyền bá sâu rộng về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại.

- Là kênh thông tin chủ yếu và chính thống nhằm giáo dục, phổ biến, quán triệt mọi chủ trương, đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước; thông báo kịp thời và có định hướng các vấn đề thời sự quan trọng trong nước và quốc tế, các vấn đề nóng bỏng mà dư luận quan tâm.

- Một mặt, thông tin đến được với quần chúng nhân dân, mặt khác nắm bắt được nhận thức và thái độ của nhân dân đối với chủ trương, đường lối, chính sách, nắm tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích…. của quần chúng.

- Góp phần to lớn vào việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng và phát huy nhân tố con người, nâng cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

- Là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.

- Có khả năng đưa được những thông tin nội bộ, những thông tin mà về lý do nào đó không đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng được.

- Định hướng thông tin, tuyên truyền, vận động, góp phần định hướng suy nghĩ và hành động của mọi người theo đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.  

3-  Những ưu thế đặc trưng của TTM

a- Ưu thế của ngôn ngữ nói

So với các phương tiện chuyển tải thông tin khác, ngôn ngữ nói có ưu thế là nó mang tính phổ biến trong giao tiếp xã hội.

Lời nói có ưu thế là sử dụng linh hoạt, hiệu quả thông tin cao. Lời nói có thể sử dụng trong mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện.

Trong TTM, cán bộ tuyên truyền có thể sử dụng các thuật ngữ, thành ngữ quen thuộc với đối tượng để biểu đạt một cách ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu về vấn đề, nói cách khác là có thể trình bày tóm tắt, cô đọng được về sự vật, hiện tượng mà không cần phải nói dài. Đồng thời, có thể sử dụng châm ngôn, cách ngôn, từ đồng nghĩa, đa nghĩa và các thủ thuật tu từ để làm cho lời nói sinh động, hấp dẫn, thu hút người nghe.

TTM là nghệ thuật vận dụng tổng hợp ý nghĩa của từ, với cách đặt câu, với các yếu tố khác như ngữ điệu, trường độ, cao độ, sự ngừng giọng, các yếu tố về thanh, sắc... để tạo ra sự diễn cảm của lời nói- một ưu thế riêng mà không một phương tiện thông tin tuyên truyền nào có được.

b- Ưu thế trong việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ

Trong TTM, ngoài việc sử dụng phương tiện lời nói để truyền tải thông tin, cán bộ tuyên truyền có thể sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như: tư thế, cử chỉ, điệu bộ, diện mạo... làm phương tiện biểu đạt thông tin và sắc thái tình cảm.

Cử chỉ, điệu bộ là một trong số các yếu tố bổ sung cho lời nói, làm cho đối tượng hiểu rõ hơn ý nghĩa, sắc thái của lời nói.

c- Ưu thế của loại hình giao tiếp trực tiếp

Phương thức chủ yếu để tiến hành hoạt động TTM được thực hiện thông qua sự giao tiếp trực tiếp nhằm cung cấp và trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe.

Khác với giao tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, sự giao tiếp trực tiếp và sinh động của kênh TTM dễ tạo cho người nghe cảm giác gần gũi, thân mật.

Giao tiếp trực tiếp tạo điều kiện cho cán bộ tuyên truyền linh hoạt vận dụng cách nói, trong những tình huống khác nhau, sử dụng cử chỉ, điệu bộ, điều chỉnh âm thanh phù hợp với đối tượng, với hoàn cảnh.

4- Các loại hình TTM

a- Thuyết trình

Thuyết trình là loại hình TTM mà người nói tác động liên tục đến người nghe bằng lời. Vì vậy, người nói phải chuẩn bị bài phát biểu hoàn chỉnh theo một đề cương sẵn trong đầu hoặc viết ra giấy, phù hợp với một thời gian xác định.

b- Đối thoại

Đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau. 

Thể loại TTM rất đa dạng, phong phú. Trong thực tế cần căn cứ vào đặc điểm đối tượng, nội dung để lựa chọn thể loại phát biểu miệng phù hợp. Đồng thời có thể kết hợp nhiều thể loại với nhau trong một buổi phát biểu để đạt hiệu quả cao nhất.

II- XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ, TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO VIÊN, TUYÊN TRUYỀN VIÊN.

1- Sự cần thiết phải tổ chức, xây dựng đội ngũ làm công tác TTM

a-  Khái niệm báo cáo viên, tuyên truyền viên

- Báo cáo viên, tuyên truyền viên là chức danh để chỉ những người làm công tác TTM đến các đối tượng là cán bộ, đảng viên và nhân dân dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ đảng và cơ quan nhà nước. Báo cáo viên được coi như là người phát ngôn, thông tin chính thống của Đảng và Nhà nước.

- Báo cáo viên và tuyên truyền viên đều là người làm công tác TTM, nhưng có vị trí và đặc điểm hoạt động khác nhau:  

+ Báo cáo viên do cấp ủy lựa chọn và ra quyết định công nhận, được tổ chức có hệ thống từ Trung ương đến tỉnh, thành phố và các Đảng uỷ trực thuộc Trung ương; quận, huyện, thị xã; xã, phường, thị trấn.

+ Tuyên truyền viên là lực lượng TTM được tổ chức ở cấp cơ sở, không có hệ thống dọc từ Trung ương. Về nguyên tắc, mọi cán bộ, đảng viên đều có nhiệm vụ là tuyên truyền viên, thực hiện vận động, cổ động, thuyết phục quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

b- Sự cần thiết xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên

 

- Xuất phát từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, Đảng ta luôn quan tâm và sử dụng công tác TTM như một phương thức hoạt động có hiệu quả, công cụ sắc bén để tổ chức, tập hợp quần chúng nhân dân.

- Xuất phát từ những ưu thế đặc trưng của công tác TTM để khai thác, phát huy thế mạnh trong hiện tại và tương lai.

- Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền.

- Xuất phát từ những yêu cầu bức xúc cần phải tăng cường định hướng thông tin trong điều kiện bùng nổ thông tin toàn cầu; tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp; quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện.

- Hoạt động của báo cáo viên và tuyên truyền viên góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhằm thực hiện “quyền được thông tin” và “dân chủ hóa” về thông tin trong Đảng và trong xã hội, chống các quan điểm sai trái, thù địch và “tự diễn biến” trong nội bộ.

c- Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của báo cáo viên

- Cung cấp thông tin; phổ biến, giải thích các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực.

- Phân tích, bình luận, làm rõ nội dung, ý nghĩa chính trị của các sự kiện, các nhiệm vụ; làm rõ bản chất các sự vật, hiện tượng, từ đó chỉ ra các nguyên nhân, dự báo chiều hướng, khả năng và triển vọng của tình hình, định hướng thông tin, nhất là những thông tin có tính chính trị cao.

- Báo cáo viên thực hiện thông tin hai chiều, nắm bắt và hướng dẫn dư luận xã hội.

d- Quyền và nghĩa vụ của báo cáo viên

Thông báo kết luận số 225- TB/TW, ngày 03/3/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các loại hình tuyên truyền” nêu rõ quy định quyền và trách nhiệm của báo cáo viên: “được dự một số cuộc họp, hội nghị của cấp ủy, được tiếp cận một số tài liệu của các cấp ủy có liên quan và cần thiết cho công tác TTM”.

Quy chế cung cấp thông tin phục vụ công tác TTM của Đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 340- QĐ/TW, ngày 03/12/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng) chỉ rõ:

Trách nhiệm của báo cáo viên các cấp của Đảng trong việc quản lý và sử dụng thông tin:

+ Quản lý và sử dụng thông tin theo đúng quy định của Quy chế hoạt động báo cáo viên và những quy định khác của Đảng và Nhà nước; chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, giữ gìn bí mật của Đảng và Nhà nước.

+ Khi thực hiện công tác tuyên truyền miệng theo sự phân công phải truyền tải đầy đủ, chính xác và trung thực nội dung thông tin do Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn và chịu trách nhiệm về những thông tin mà báo cáo viên đưa ra.

+ Báo cáo viên các cấp của Đảng được hưởng một số chế độ theo quy định”.

2- Yêu cầu đối với mỗi báo cáo viên, tuyên truyền viên

a- Những tiêu chuẩn về phẩm chất   

- Có lập trường quan điểm đúng đắn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với mục tiêu lý tưởng và sự nghiệp đổi mới của Đảng.

- Có tính đảng, tính chiến đấu và ý thức tổ chức kỷ luật cao, đặc biệt là kỷ luật phát ngôn.

- Có phẩm chất đạo đức và tinh thần trách nhiệm cao; nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp, khiêm tốn học hỏi, gương mẫu và có mối quan hệ tốt với mọi người.

b- Những tiêu chuẩn chủ yếu về năng lực

- Nắm vững lý luận Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Có trình độhiểu biết nhất định về các lĩnh vực: chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học. Biết vận dụng tâm lý học, phương pháp sư phạm và nghiệp vụ tuyên truyền, nhất là TTM.

- Có khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin, diễn đạt rõ ràng các vấn đề nêu lên, có phương pháp vận động thuyết phục quần chúng nhân dân, đồng thời có năng lực tự chủ và giao tiếp, đối thoại với người nghe.

c- Nhiệm vụ rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực của báo cáo viên, tuyên truyền viên                    

- Rèn luyện bản lĩnh, sự nhạy bén chính trị để nói đúng quan điểm, đường lối của Đảng, không tùy tiện phát ngôn; thận trọng, nhưng dám nói lên sự thật, nói đúng sự thật, bảo vệ chân lý một cách phù hợp.

- Rèn luyện tinh thần độc lập suy nghĩ, có ý thức trách nhiệm cao, nhiệt tình, sẵn sàng với công việc được giao. Báo cáo viên phải gắn bó, tâm huyết, trách nhiệm, niềm tin để truyền tâm huyết, niềm tin đến người nghe.

- Cần phải có sự cần cù, sâu sắc, sáng tạo trong nghiên cứu, tổng hợp, phân tích và phương pháp trình bày, nhất là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nói, biểu cảm...

- Không ngừng học tập và tự rèn luyện. Thông qua hoạt động thực tiễn để vừa nâng cao kiến thức và bồi dưỡng vốn sống thực tế.

- Thường xuyên tham dự các hội nghị thông tin, lớp tập huấn, bồi dưỡng để được cung cấp thông tin mới, phương pháp nghiệp vụ, nhất là đối với những báo cáo viên mới tham gia công tác.

- Phải có nhận thức, hiểu biết toàn diện, sâu rộng về kiến thức xã hội.

III- LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BÁO CÁO VIÊN, TUYÊN TRUYỀN VIÊN.

1- Vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác tuyên truyền miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên

- Lãnh đạo hoạt động và tổ chức, xây dựng lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên, vì báo cáo viên, tuyên truyền viên là đội ngũ TTM có tổ chức của Đảng, do Đảng lựa chọn và quyết định, là công cụ quan trọng hàng đầu trong việc trực tiếp tuyên truyền, giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, truyền đạt quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng tới đảng viên và quần chúng nhân dân.

- Nâng cao nhận thức của tổ chức đảng, trước hết là đồng chí bí thư, của cấp ủy và thủ trưởng cơ quan, đơn vị, của mỗi cán bộ, đảng viên, nhận thức được tầm quan trọng đối với công tác TTM, đối với công tác giáo dục chính trị ngay trong nội bộ Đảng và quần chúng nhân dân.

- Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng trong việc xây dựng và ban hành quy chế hoạt động báo cáo viên của cấp ủy, trong đó quy định rõ vị trí quan trọng và chức năng, nhiệm vụ cụ thể, tiêu chuẩn, chế độ chính sách và quyền hạn của đội ngũ báo cáo viên của cấp ủy để báo cáo viên dựa vào những quy định thống nhất hoạt động.

- Căn cứ vào đề nghị của Ban Tuyên giáo, cấp ủy cùng cấp ra quyết định công nhận báo cáo viên (có sự bổ sung, điều chỉnh định kỳ), chỉ đạo, định hướng những nội dung quan trọng về chương trình, kế hoạch, tổ chức quán triệt kịp thời các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và cấp mình cho đội ngũ báo cáo viên cùng cấp; kiểm điểm, tổng kết rút kinh nghiệm về lãnh đạo của cấp ủy đối với công tác này. Với các đảng bộ, chi bộ cơ sở, đồng chí bí thư, phó bí thư hoặc một đồng chí trong cấp ủy trực tiếp phụ trách công tác này.

2- Vai trò của Ban Tuyên giáo đối với công tác tuyên truyền miệng, xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên

- Lựa chọn, đề xuất với  cấp ủy ra quyết định công nhận báo cáo viên của cấp ủy cùng cấp.

- Xây dựng đội ngũ báo cáo viên đủ về số lượng theo yêu cầu của nhiệm vụ tuyên truyền trong từng giai đoạn cách mạng và phù hợp với đặc điểm từng địa phương. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của từng cấp, cấp ủy xác định số lượng báo cáo viên, chú trọng chất lượng, không nhất thiết phải là cấp ủy viên mà lựa chọn những người có phẩm chất, có năng lực, đặc biệt là năng lựcTTM, có điều kiện và thời gian hoạt động.

- Dựa trên Quy chế hoạt động của báo cáo viên do Trung ương ban hành, xây dựng và ban hành quy chế hoạt động báo cáo viên cấp tỉnh, huyện và cơ sở.

- Đội ngũ tuyên truyền viên được xây dựng ở cơ sở, Ban Tuyên giáo cấp huyện xây dựng và hướng dẫn hoạt động cho đội ngũ tuyên truyền viên ở cơ sở. Tuyên truyền viên có thể là quần chúng nhân dân, không là đảng viên, nhưng phải là người gương mẫu, tích cực, có phẩm chất, năng lực làm tuyên truyền viên.

- Định kỳ tổ chức các hội nghị thông tin cho báo cáo viên để cung cấp thông tin và định hướng tuyên truyền cho báo cáo viên. Trong các hội nghị báo cáo viên chú trọng yêu cầu thông tin của báo cáo viên đến dự hội nghị và chất lượng thông tin để lựa chọn những người đến báo cáo các chuyên đề.

- Trực tiếp giúp cấp ủy chỉ đạo và quản lý hoạt động báo cáo viên, quan tâm đến cung cấp các trang thiết bị, các chế độ, chính sách cho báo cáo viên.

- Theo dõi, kiểm tra hoạt động của báo cáo viên. Tổ chức các hội nghị sơ kết, thi báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi, khen thưởng, động viên kịp thời các báo cáo viên có thành tích xuất sắc, rút kinh nghiệm và báo cáo cấp ủy thay thế những báo cáo viên không hoàn thành nhiệm vụ, không tích cực hoạt động; kiến nghị với cấp ủy những vấn đề về nội dung hoạt động và sửa đổi bổ sung các quy định, chế độ, chính sách đối với báo cáo viên, tuyên truyền viên.

3- Tăng cường công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới

a- Đánh giá công tác TTM trong thời gian qua:

* Những kết quả đạt được:

- Công tác TTM và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên đã có bước phát triển, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác tư tưởng trong từng thời kỳ, góp phần tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân, tạo sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.

- Công tác TTM đã đi vào nền nếp, bám sát cơ sở, cố gắng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để phù hợp với tình hình thực tiễn và trình độ nhận thức, yêu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân ở mỗi địa phương, đơn vị, thực sự là một trong những kênh quan trọng, có hiệu quả cao của công tác tư tưởng- văn hóa.

- Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được phát triển cả về số lượng và chất lượng, có nhiều hoạt động phong phú, tích cực, làm tốt vai trò là lực lượng nòng cốt, chủ lực thực hiện công tác TTM của Đảng.

* Những hạn chế, yếu kém:

- Một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác TTM. Chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác TTM và việc xây dựng lực lượng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của đội ngũ báo cáo viên.

- Không ít cán bộ lãnh đạo các cấp chưa tích cực tham gia công tác TTM với vai trò báo cáo viên, tuyên truyền viên.

- Nhiều đảng viên chưa chủ động tham gia tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho quần chúng.

- Chất lượng công tác TTM còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt nhu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân có trình độ ngày càng cao và có nhiều nguồn thông tin.

- Tính thuyết phục, tính hấp dẫn chưa cao, gần đây có biểu hiện né tránh những vấn đề bức xúc mà dư luận quan tâm.

- Phương thức hoạt động còn nặng về tuyên truyền một chiều từ trên xuống.

- Lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên đông nhưng chưa mạnh.

- Các chế độ chính sách, điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính cho công tác TTM và hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên không còn phù hợp nhưng chậm được khắc phục.

b- Một số nhiệm vụ chủ yếu để triển khai thực hiện tốt công tác TTM:

1. Tiếp tục quán triệt ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác TTM, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên.

2. Xác định công tác TTM là công tác của Đảng, vì vậy tất cả các đảng viên hoạt động trên mọi lĩnh vực, cấp uỷ viên các cấp từ trung ương đến cơ sở đều phải xác định trách nhiệm làm nhiệm vụ của tuyên truyền viên của Đảng, trực tiếp tham gia tuyên truyền đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho quần chúng ở nơi công tác và cư trú, coi đó là một tiêu chuẩn quan trọng đánh giá tính tiên phong, gương mẫu và phẩm chất chính trị của đảng viên.

3. Tiếp tục củng cố, xây dựng và phát triển đội ngũ báo cáo viên các cấp, đẩy mạnh việc tổ chức và hoạt động của các đội tuyên truyền viên của các ngành, địa phương, các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội và trong lực lượng vũ trang. Báo cáo viên phải do cấp uỷ lựa chọn, quản lý, bồi dưỡng và điều hành hoạt động.

Cấp uỷ và Ban tuyên giáo các cấp có kế hoạch toàn diện thực hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chính trị, tư tưởng, chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất cho đội ngũ báo cáo viên, chú ý cán bộ trẻ, kế cận, từng bước nâng cao trình độ chuyên nghiệp của báo cáo viên.

4. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động TTM và báo cáo viên, tuyên truyền viên, vừa đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu và trình độ mới của quần chúng, vừa nâng cao tính định hướng và sự thuyết phục của hoạt động TTM. Chú trọng gắn truyền đạt với đối thoại, trao đổi, truyền tải trực tiếp những thông tin nội bộ cần thiết phục vụ công tác tư tưởng đối với tất cả các đối tượng ở mọi hoàn cảnh, điều kiện một cách linh hoạt.

5. Tăng cường hơn nữa sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo các cấp, thống nhất, chặt chẽ trong việc đẩy mạnh công tác TTM, quản lý đội ngũ và hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp.

4- Những nội dung chủ yếu trong việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác TTM 

a- Đổi mới về nội dung:

- Dựa vào các văn kiện, nghị quyết của Đảng, chủ trương, chính sách lớn của Nhà nước, bám sát các sự kiện chính trị quan trọng ở trong nước và quốc tế, đặc biệt là gắn với những vấn đề xã hội và người nghe quan tâm để chủ động xây dựng chương trình, nội dung đề tài cho phù hợp, khắc phục những nội dung chung chung, không sát yêu cầu người nghe.

- Nâng cao chất lượng thông tin, thông tin vừa mang tính thời sự quan trọng, vừa có những chuyên đề đi sâu vào những vấn đề lý luận cơ bản, những vấn đề mới đang đặt ra trong cuộc sống có liên quan thiết thực đến các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta hiện nay và những năm sắp tới.

- Coi trọng hàng đầu việc định hướng đúng đắn và kịp thời những thông tin quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và tình hình quốc tế đồng thời mở rộng thêm các nội dung khác, đáp ứng yêu cầu phong phú, đa dạng, phù hợp với từng loại đối tượng khác nhau.

b- Đổi mới phương thức

- Củng cố và duy trì đều đặn chế độ thông tin hàng tháng cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp.

- Đẩy mạnh thông tin hai chiều theo hướng dân chủ hoá và tăng cường đối thoại. Quan tâm nhiều hơn nữa đến chất lượng và phương pháp để thông tin khách quan, đúng sự thật, giới thiệu các điển hình tập thể và cá nhân tiên tiến, các gương người tốt, việc tốt.

- Thông qua nhiều kênh, nhiều tổ chức, nhiều hình thức để tiến hành đưa thông tin trực tiếp tới các đối tượng khác nhau. Chú trọng hơn nữa các đối tượng trí thức, thanh niên, sinh viên, cựu chiến binh, những cán bộ đã nghỉ hưu. Tăng cường và mở rộng hệ thống mạng lưới thông tin TTM từ Trung ương đến cơ sở. Cung cấp và sử dụng nhiều tài liệu, tư liệu, ghi âm, ghi hình… giúp cho người nói và người nghe có nhanh và có nhiều ấn phẩm thông tin với nội dung đa dạng, phong phú và hấp dẫn.

c- Đổi mới tổ chức, con người và phương tiện

- Tăng cường lãnh đạo và nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp uỷ Đảng, đối với công tác tuyên truyền miệng, đồng thời phải thực hiện tốt hơn nữa vai trò của Ban Tuyên giáo các cấp với chức năng là cơ quan tham mưu trực tiếp giúp cấp uỷ quản lý và điều hành công tác tuyên truyền miệng. Mặt khác mọi cán bộ, đảng viên đều phải làm tốt công tác tuyên truyền miệng, thực hiện đúng Chỉ thị 17-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương (khoá X) quy định.

- Tổ chức xây dựng và củng cố lại đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trên cơ sở lựa chọn những người có đủ phẩm chất và năng lực, kiên quyết thay thế những người không đủ tiêu chuẩn và thực sự không hoạt động. Ở cơ sở, cần tranh thủ và có chính sách động viên các cán bộ đã nghỉ hưu và cựu chiến binh có nhiệt tình và kinh nghiệm để tham gia đông đảo vào lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên.

- Nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của Trung tâm Thông tin công tác Tuyên giáo; đồng thời, kiện toàn và củng cố các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện để sớm hình thành hệ thống thông tin theo Chỉ thị 17- CT/TW nhấn mạnh: “đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của Trung tâm Thông tin công tác Tuyên giáo các cấp để nâng cao tính tích cực, năng động, hướng về cơ sở, hiệu quả hoạt động của Trung tâm này”.

- Thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ về công tác TTM. Hằng năm, tổ chức kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm, mở các hội thi báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi, có chế độ khen thưởng, động viên kịp thời./.

BAN TUYÊN GIÁO ĐẢNG ỦY KHỐI