MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN

 

I- KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN.

1- Khái niệm: Là sự giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được những mục tiêu đó là tuyên truyền thất bại”.

2-  Vị trí vai trò của công tác tuyên truyền.

- Là 1 trong 3 bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng (lý luận, tuyên truyền, cổ động) có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân.

- Tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin cho cán bộ đảng viên và nhân dân; cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước.

- Uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

3- Các nguyên tắc cơ bản của công tác tuyên truyền.

a- Tính đảng, tính giai cấp.

- Tuyên truyền vô sản phải phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Tính đảng, tính giai cấp đòi hỏi khi trình bày, giải thích mọi hiện tượng và sự việc xẩy ra trong thực tiễn đều phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân; trên lợi ích của giai cấp và của dân tộc để xem xét, đánh giá, phân tích.

- Luôn quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đặc biệt là cho thế hệ trẻ; giáo dục nhận thức đúng đắn, tinh thần cách mạng, nhiệt tình cách mạng cho quần chúng.

- Mỗi cán bộ tuyên truyền phải thực sự trung thành với đường lối, chính sách của Đảng, có ý thức tổ chức kỷ luật trong nói và viết, không được lồng những quan điểm cá nhân, trái với đường lối quan điểm của Đảng khi tuyên truyền.

- Kiên định đấu tranh với các luận điệu thù địch, thói hư, tật xấu, các tệ nạn xã hội... bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.

b- Tính khoa học và thực tiễn.

- Dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn, để nhìn nhận, phân tích sự việc, hiện tượng, từ đó thuyết phục, cảm hoá đối tượng.

- Luôn luôn gắn với thực tiễn, trên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng phương hướng, nhiệm vụ của công tác tuyên truyền trong từng thời kỳ cách mạng. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn để giải đáp những vấn đề của cuộc sống đặt ra.

- Phương pháp, hình thức tuyên truyền phải phù hợp với tình hình và với từng đối tượng.

c- Tính chân thật.

- Phải trình bày một cách khách quan những kết quả thực tiễn, cả thành tựu và thiếu sót, thắng lợi và sai lầm; phân tích, phản ánh sự vật và hiện tượng đúng bản chất của nó. Bác Hồ thường căn dặn người cán bộ cách mạng là không được nói dối dân, phải cho dân biết sự thật. Trong lúc tình hình gặp khó khăn, càng cần nói rõ những khó khăn đó, chỉ rõ nguyên nhân và cách khắc phục.

- Phản ánh đúng đắn tâm tư, nguyện vọng của quần chúng trong quá trình thực hiện đường lối, chính sách, từ đó kiến nghị những biện pháp bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh đường lối, chính sách.

- Tính chân thật không mâu thuẫn với việc lựa chọn, xử lý nội dung tuyên truyền một cách phù hợp nhất với từng giai đoạn, đối tượng, không nhất thiết nói hết những nội dung có thể gây hiểu nhầm, hoang mang trong quần chúng.

d- Tính chiến đấu.

- Tuyên truyền, do bản chất của nó, trước hết là tuyên truyền chính trị. Tính chiến đấu chính là bản chất của tuyên truyền chính trị. Trong tuyên truyền phải có sự nhạy bén chính trị và bản lĩnh chính trị. Phân biệt đúng, sai, phải, trái, xác định cái tốt cần biểu dương, cái xấu cần phải kịp thời phê phán.

- Có tinh thần cách mạng tiến công, chống mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, chống mọi quan điểm, khuynh hướng sai, trái với quan điểm, đường lối của Đảng.

e- Tính phổ thông, đại chúng.

- Nội dung tuyên truyền phải gắn chặt với cuộc sống thực tiễn phong phú của quần chúng, gần gũi với cách nghĩ, cách nói và khuôn mẫu tư duy của quần chúng. Đặc biệt, tuyên truyền phải giúp quần chúng giải đáp những vấn đề “nóng” mà cuộc sống đang đặt ra, liên quan đến nhận thức và lợi ích của đa số quần chúng.

- Hình thức tuyên truyền phải phù hợp với trình độ, tâm lý của từng loại đối tượng, biết sử dụng những loại hình tuyên truyền mà quần chúng quan tâm, ưa thích, thực hiện tốt thông tin hai chiều. Tuyên truyền phải dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm như lời Bác Hồ đã dạy.

Gần đây cũng có công trình nghiêm túc về công tác tư tưởng bổ sung thêm: Tính nhạy bén, tính thời sự, tính hệ thống. Điều này cũng có lý vì trong điều kiện bùng nổ thông tin và nhất là các thế lực thù địch đang lợi dụng các phương tiện hiện đại để chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá. Do vậy, người cán bộ tuyên truyền phải đáp ứng tính thời sự, thông tin, định hướng về mặt chính trị, tư tưởng trước mọi sự kiện tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân.

II- NỘI DUNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN.

1- Tuyên truyền nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

2- Tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chủ trương, biện pháp của tỉnh, qua việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, các văn bản của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là những vấn đề mới.

3- Tuyên truyền về tình hình thời sự quốc tế, về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định cho sự phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

4- Tuyên truyền, giáo dục truyền thống của dân tộc và của địa phương qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhân các ngày kỷ niệm, các đợt sinh hoạt chính trị lớn của đất nước và địa phương.

5- Tuyên truyền về thành tựu chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của đất nước và của địa phương, những thuận lợi và khó khăn, những kinh nghiệm và bài học trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị.

6- Tuyên truyền, nêu gương về người tốt, việc tốt, về các nhân tố mới, điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước.

7- Tuyên truyền, phổ biến kiến thức mới, quy trình công nghệ mới trong sản xuất, đời sống và bảo vệ môi trường.

8- Tuyên truyền về lối sống, nếp sống và trách nhiệm công dân, nhằm góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

9- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật của Nhà nước.

10- Tổ chức cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, chống “tự diễn biến” trong nội bộ; phê phán quan điểm sai trái, chống quan liêu, tham nhũng và những thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội.

Tóm lại: Tuyên truyền có 3 nội dung chính.

- Tuyên truyền xây dựng Đảng

- Tuyên truyền phát triển kinh tế-xã hội

- Tuyên truyền kỷ niệm ngày truyền thống.

III- CÁC LOẠI HÌNH TUYÊN TRUYỀN.

1- Tuyên truyền miệng. (Có chuyên đề riêng).

2- Tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng: là loại hình tuyên truyền sử dụng các phương tiện truyền thông: báo chí, phát thanh truyền hình, Internet...

3- Tuyên truyền trực quan.

- Là loại hình tuyên truyền sử dụng các phương pháp, hình thức tác động trực tiếp vào thị giác của đối tượng, làm cho họ nhận thức đúng đắn nội dung tuyên truyền, giúp họ dễ hiểu, dễ nhớ và hành động theo mục đích của công tác tuyên truyền.

- Các hình thức tuyên truyền trực quan phổ biến hiện nay là khẩu hiệu, biểu ngữ, tranh cổ động, ảnh thời sự, bảng thi đua, áp phích ảnh, tờ rơi, bướm tin, phim ảnh, triển lãm...

- Ngày nay, trình độ khoa học, kỹ thuật phát triển ngày càng cao, thì các hình thức tuyên truyền trực quan càng phong phú, đa dạng, sinh động và lôi cuốn được đông đảo công chúng.

4- Tuyên truyền qua các hoạt động văn hoá, văn nghệ.

- Là tuyên truyền qua các hoạt động, các hình thức, như: bảo tàng, thư viện, nhà truyền thống, văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, mỹ thuật, múa, sân khấu, điện ảnh, các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng, lễ hội, các trò chơi giải trí...

- Tuyên truyền bằng phương thức văn hoá, văn nghệ làm cho nội dung tuyên truyền sinh động, có sức hấp dẫn, cuốn hút. Văn hoá, văn nghệ tác động đến công chúng bằng cái đẹp, thông qua cái đẹp, từ tình cảm đến lý trí làm thay đổi nhận thức và hành vi của con người một cách tự nguyện.

5- Tuyên truyền thông tin đối ngoại.

- Khái niệm:

Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng và đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách, những thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước, con người, lịch sử, văn hoá của dân tộc Việt Nam; đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá Việt Nam; tranh thủ sự đồng tình; ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Nội dung cơ bản của công tác tuyên truyền đối ngoại.

+ Giới thiệu rộng rãi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cũng như những thành tựu đạt được trong những năm đổi mới.

+ Thông tin, giới thiệu đường lối và chính sách đối ngoại.

Thông tin đối ngoại phải làm rõ “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng Quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh”.

+ Giới thiệu về đất nước, con người, lịch sử, văn hoá của Việt Nam

+ Đấu tranh với những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc về Việt Nam của các thế lực chống đối, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

+ Thông tin quốc tế.

- Đối tượng TTĐN.

Về cơ bản, có thể chia đối tượng của hoạt động TTĐN thành 4 nhóm lớn:

+ Nhóm thứ nhất: nhân dân, chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế

+ Nhóm thứ hai: người nước ngoài sinh sống, làm việc, học tập, du lịch ở Việt Nam.

+ Nhóm thứ ba: cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

+ Nhóm thứ tư: nhân dân trong nước

- Phương châm:

 Phương châm cụ thể của hoạt động TTĐN trong tình hình hiện nay cần phải “Chính xác, kịp thời, sinh động, hợp đối tượng”.

- Một số nhiệm vụ thông tin đối ngoại:

+ Tham mưu cho các cấp uỷ tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại; giúp đội ngũ cán bộ chủ chốt nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, nội dung của công tác TTĐN. Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, chương trình hành động về TTĐN.

+ Tổ chức các hội nghị chuyên đề giới thiệu thành tựu của TTĐN trong những năm đổi mới; giới thiệu đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

+ Tổ chức giới thiệu những ưu thế tiềm năng trong các lĩnh vực của tỉnh, thành cho các tổ chức quốc tế, các tỉnh, thành của các nước có quan hệ hợp tác và cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục đích tăng đầu tư vào Việt Nam và góp phần tăng xuất khẩu ra nước ngoài qua các kênh thông tin của tỉnh.

+ Phối hợp với các cơ quan Trung ương tổ chức các Đoàn ra nước ngoài tổ chức triển lãm, họp báo giới thiệu khả năng đầu tư, hợp tác của tỉnh.

+ Tích cực tham gia cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; xử lý kịp thời những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nhất là các vấn đề liên quan tới dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc, chủ quyền lãnh thổ...

+ Xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ làm công tác TTĐN đủ sức giải quyết các vấn đề nhạy cảm, phức tạp.

+ Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động TTĐN, phát triển các phương tiện thông tin hiện đại, nhất là internet, truyền hình cáp, phủ sóng các vùng về truyền hình và phát thanh... Đầu tư có trọng điểm cho một số cơ quan báo, đài trên địa bàn tỉnh.

IV- LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN.

1- Xuất phát từ bản chất và yêu cầu, nhiệm vụ của tuyên truyền cách mạng, các cấp uỷ đảng phải lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và thống nhất công tác tuyên truyền.

2- Thực hiện phương châm “toàn Đảng làm công tác tư tưởng” mỗi đảng viên đều làm công tác tuyên truyền.

3- Sử dụng tất cả các lực lượng và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, phương tiện trong công tác tuyên truyền.

4- Xây dựng và không ngừng hoàn thiện các phương tiện chủ lực làm công tác tuyên truyền, trong đó các phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền miệng có vai trò đặc biệt quan trọng.

5- Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên truyền có bản lĩnh chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.

V- MỘT SỐ VẤN ĐỀ TÁC NGHIỆP CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN.

1- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền và hướng dẫn tuyên truyền.

- Kế hoạch tuyên truyền: là văn bản xác định mục đích, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ, thời gian và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền về một hay nhiều chủ đề trong một khoảng thời gian xác định.

- Hướng dẫn tuyên truyền: là một loại văn bản có tính chủ đạo, giải thích, hướng dẫn cụ thể cách tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền đã được cấp uỷ hoặc của cơ quan Đảng cấp trên ban hành.

2- Xây dựng đề cương tuyên truyền.

- Đề cương tuyên truyền là một loại văn bản cung cấp thông tin tư liệu, sự phân tích, giải thích về một hay nhiều chủ đề tuyên truyền, giúp cho người tuyên truyền và đối tượng được tuyên truyền có cơ sở để có nhận thức chung thống nhất về vấn đề đó. Có hai dạng đề cương tuyên truyền chủ yếu: bài luận văn giải thích hay một số vấn đề theo dạng hỏi - đáp.

- Hình thức phổ biến của một đề cương tuyên truyền gồm: Mục đích, yêu cầu, nội dung thông tin, tư liệu, số liệu chủ yếu cần thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của sự kiện, vấn đề...

- Yên cầu chung của đề cương tuyên truyền cần có kết cấu ngắn gọn, hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, đủ tư liệu cần thiết, nhiều thông tin mới, lý giải rõ ràng, lập luận sắc bén, ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, hợp đối tượng.

3- Tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch.

Để biến kế hoạch tuyên truyền thành hiện thực phải làm tốt khâu tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thường xuyên.

4- Tổ chức cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, chống tệ nạn xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực trên địa bàn.

5- Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tuyên truyền miệng.

6- Phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình tiên tiến và nhân tố mới.

Bản chất của tuyên truyền yêu cầu phải phát hiện, bồi dưỡng và thông qua các điển hình tiên tiến để làm công tác tuyên truyền. Điển hình tiên tiến và nhân tố mới là hình mẫu cụ thể có tác động rất lớn đến đối tượng tuyên truyền.

7- Xử lý những vấn đề bức xúc.

- Khái niệm: bức xúc là hiện tượng xã hội xuất hiện khi có sự việc hoặc vấn đề nào đó mà nhân dân không hiểu, không đồng tình, băn khoăn, thắc mắc, bất bình, phản đối.

- Bức xúc của nhân dân thường phát sinh trong các quá trình:

+ Triển khai các dự án, đề án về phát triển kinh tế, xã hội

+ Phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí

+ Khởi tố, xét xử những vụ án nhạy cảm

+ Tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt, cách chức, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức không đúng quy định.

+ Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

+ Phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, tệ nạn xã hội

+ Bảo vệ biên giới, biển đảo, độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia...

- Một số tác nghiệp giải quyết, xử lí những vấn đề bức xúc.

* Khái niệm: “điểm nóng” là hiện tượng chính trị-xã hội xảy ra ở một hay nhiều địa bàn; bắt nguồn từ những mâu thuẫn nội bộ kéo dài dẫn đến tranh chấp, xung đột gay gắt, lôi cuốn đông người tham gia, có nhiều hành vi cực đoan, quá khích, vi phạm pháp luật, hoạt động của hệ thống chính trị ở đó giảm sút hoặc tê liệt; gây mất ổn định về an ninh, trật tự xã hội và đời sống nhân dân địa phương.

* Tổ chức động viên quần chúng tham gia phòng ngừa, giải quyết “điểm nóng”.

- Ba phương châm cơ bản:

+ Lấy công tác giáo dục chính trị, tuyên truyền vận động thuyết phục là chính.

+ Gắn củng cố sự hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội với công tác tuyên truyền, vận động quần chúng.

+ Gắn việc phát huy dân chủ với việc tôn trọng kỷ cương pháp luật.

- Mười biện pháp cụ thể:

+ Thứ nhất, cần nhận định đây là mâu thuẫn trong nội bộ, cho nên biện pháp giải quyết phải phù hợp; cần tập trung cao độ làm công tác vận động quần chúng.

+ Thứ hai, phải tiến hành giáo dục những người quá khích, phân hoá những đối tượng cầm đầu, gây rối, giúp quần chúng nhân dân hiểu rõ chân dung của những kẻ cầm đầu thì mới phân hoá được lực lượng.

+ Thứ ba, phải thông qua các tổ chức quần chúng, phải nắm được lực lượng cốt cán, làm tốt công tác tư tưởng trong số quần chúng tích cực vì đối tượng này rất quan trọng để tập hợp, thuyết phục, thu phục quần chúng đấu tranh chống các phần tử gây bất ổn định.

+ Thứ tư, công tác giáo dục, vận động quần chúng ở các “điểm nóng” phải vừa có nội dung với lý lẽ xác đáng, có sức thuyết phục cao, vừa đi sâu vào tình cảm, tâm lý của mỗi lớp người.

+ Thứ năm, giáo dục cho quần chúng nâng cao tinh thần trách nhiệm, tích cực tham gia giải quyết dứt điểm “điểm nóng” để ổn định chính trị, phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương ngày càng vững mạnh.

+ Thứ sáu, phải giáo dục ý thức đoàn kết, thương yêu nhau trong nội bộ nhân dân.

+ Thứ bảy, ở những nơi thành lập đội công tác để giải quyết “điểm nóng”, cần chú trọng chọn lựa những cán bộ tốt, trong sạch, am hiểu chính sách, có kinh nghiệm công tác quần chúng, có tinh thần chịu đựng khó khăn, biết gần gũi hòa mình vào quần chúng.

+ Thứ tám, đẩy mạnh công tác dân vận thực hiện “dân là gốc”.

+ Thứ chín, xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm pháp luật, tham nhũng, hống hách với dân.

+ Thứ mười, phải nâng cao tính chiến đấu của các tổ chức chính trị-xã hội ở cơ sở và phát huy quyền làm chủ của dân./.

 

BAN TUYÊN GIÁO ĐẢNG ỦY KHỐI