NGHỊ QUYẾT 68 NGÀY 10/9/1966 CỦA TỈNH ỦY VĨNH PHÚC VÀ TƯ DUY ĐỔI MỚI

ĐẦY SÁNG TẠO CỦA ĐỒNG CHÍ KIM NGỌC

    Đồng chí Kim Ngọc là người con ưu tú của quê hương Vĩnh Phúc, niềm tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Vĩnh Phúc.

    Từ nửa sau thế kỉ XX đến nay, cuộc đời, tư duy đổi mới, những sáng tạo cống hiến của ông luôn là đề tài phong phú cho các nhà nghiên cứu khoa học, cho những người ngưỡng mộ đổi mới sáng tạo cống hiến, cho các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh quan tâm. Ông là một trong số ít người đã trở thành giai thoại, huyền thoại trong lòng dân từ khi làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú cho đến nay.

    Người ta gọi ông là “Cha đẻ của Khoán hộ”, “Người đi trước thời gian”, “Người mở đường cho tư duy đổi mới về nông nghiệp, nông thôn, nông dân”.

 

 

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc (bên trái) trực tiếp chỉ đạo sản xuất nông nghiệp

    Cống hiến lớn lao nhất của ông là ông chủ động, chủ trì để có một Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc - một Nghị quyết đột phá đầy sáng tạo, có tác dụng thay đổi cách nhìn, cách nghĩ về con người, về lao động, về sáng tạo, về cống hiến. Nghị quyết có tác dụng tức thì và lâu dài về sự đổi đời cho những con người lao động được chủ động, được tự do lao động, sản xuất, được phát huy mọi khả năng, tiềm năng, khát vọng, sáng tạo, cống hiến. Đó là Nghị quyết số 68 ngày 10 tháng 9 năm 1966 có tên gọi: “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”.

    Sau nhiều năm nghiền ngẫm, suy nghĩ và một năm chỉ đạo, tổ chức, điều tra, khảo sát, thí điểm ở một số địa phương trong tỉnh, đồng chí Kim Ngọc đã khởi xướng, chủ trì thảo luận, tranh luận trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và đi đến thống nhất ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU ngày 10-9-1966 “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. Sau này người ta quen gọi là Nghị quyết 68 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.

    Phần mở đầu Nghị quyết thể hiện quan điểm của Tỉnh ủy về vị trí, tầm quan trọng và ý nghĩa của lao động : “Lao động là một trong ba điều kiện cơ bản để tiến hành sản xuất, là vốn quý không thể thiếu được. Điều kiện quyết định cơ bản nhất để tăng năng suất lao động là con người lao động có kĩ năng, sử dụng được thành thạo các công cụ sản xuất tiên tiến”. Đây là quan điểm thể hiện một cách nhìn mới, cách nghĩ mới về lao động và người lao động.

    Chúng ta đều biết lao động là một hoạt động chân tay, trí óc của con người nhằm tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Trong Nghị quyết đã khẳng định “Lao động…là vốn quý không thể thiếu được”, câu nói ấy vừa có tính lý luận lại vừa có tính thực tiễn vừa dễ hiểu lại vừa dễ nhớ. Nghị quyết tiếp tục khẳng định điều kiện quyết định cơ bản nhất để tăng năng suất lao động là con người lao động có kĩ năng, sử dụng được thành thạo các công cụ sản xuất tiên tiến. Nghị quyết đã phát hiện ra mấu chốt của vấn đề tăng năng suất lao động là ở con người, những con người có kĩ năng sử dụng thành thạo các công cụ sản xuất tiên tiến. Chính vì vậy, vấn đề lao động, sử dụng lao động, tăng năng suất lao động hiệu quả, hiệu suất của lao động là vấn đề then chốt của Nghị quyết. Đó là một sáng tạo, một cống hiến của một tư duy đổi mới, một cách nhìn nhận mới về mối quan hệ giữa lao động với kĩ năng sử dụng công cụ lao động. 

Nghị quyết 68 tiếp tục xác định phương hướng nhiệm vụ chung:

     “- Phải tạo mọi điều kiện huy động, sử dụng được hết và tốt mọi khả năng lao động hiện có.

     - Phải dùng mọi biện pháp để tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, đảm bảo nhiệm vụ trọng tâm chính trị là sản xuất và chiến đấu.”

    Rõ ràng, Nghị quyết 68 đã yêu cầu phải tạo mọi điều kiện, phải huy động, phải sử dụng được hết và tốt mọi khả năng lao động hiện có, phải dùng mọi biện pháp để tăng năng suất lao động trong nông nghiệp đảm bảo nhiệm vụ trọng tâm là sản xuất và chiến đấu. Phương hướng nhiệm vụ thật rõ ràng, yêu cầu thực hiện thật cụ thể dễ hiểu. Lời văn của Nghị quyết như lời nói hàng ngày của người lao động với người lao động, rất giản dị, chân thành nhưng cũng rất quyết liệt với quyết tâm cao độ yêu cầu phải thực hiện bằng được. Phần phương hướng nhiệm vụ đánh giá cao con người và khả năng của con người, vì vậy, Nghị quyết yêu cầu “phải tạo mọi điều kiện, phải huy động, phải sử dụng được hết và tốt mọi khả năng lao động hiện có” của con người. Mục đích của tất cả các hoạt động của con người với kĩ năng sử dụng công cụ lao động tiên tiến, thành thạo nhằm “tăng năng suất lao động và đảm bảo nhiệm vụ trọng tâm chính trị là sản xuất và chiến đấu”.

    Tư duy đúng và mới của Nghị quyết là ở chỗ cần phải tin vào sức mạnh của con người, khả năng lao động sáng tạo của con người, phải đề cao khả năng của mỗi con người hiện có. Từ đó phải dùng mọi biện pháp để kích thích mọi tiềm năng sẵn có của con người với kĩ năng lao động sáng tạo của mỗi người nhằm tăng năng suất lao động.

    Phần nhiệm vụ cụ thể Nghị quyết  nêu rõ 6 nhiệm vụ.

    Nhiệm vụ thứ nhất là:

   “1- Ra sức mở rộng kinh doanh toàn diện phát triển nhiều ngành nghề trong hợp tác xã để tận dụng được hết mọi khả năng lao động, phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tăng tích lũy, nâng cao đời sống xã viên.” Nghị quyết đã chỉ ra biện pháp “ra sức mở rộng kinh doanh toàn diện, phát triển nhiều ngành nghề”. Mục đích là “để tận dụng được hết mọi khả năng lao động, phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tăng tích lũy, nâng cao đời sống xã viên”, một lần nữa khả năng con người được đề cao, mục đích của lao động cũng được khẳng định, mục tiêu cao nhất của con người và lao động chính là nhằm phát triển sản xuất ở mọi lĩnh vực nhằm tăng thu nhập, tăng tích lũy, nâng cao đời sống. Đó là một cách nghĩ mới và đúng, thật đáng trân trọng.

     Nghị quyết chỉ ra nhiệm vụ thứ hai: 

    “2- Kiên quyết thực hiện bằng được đúng và tốt chế độ ba khoán: Khoán việc cho nhóm, cho lao động và cho hộ, bảo đảm sử dụng hợp lý sức lao động và tăng năng suất lao động.”

    Lời văn của Nghị quyết mộc mạc, rõ ràng, dễ hiểu nhưng cũng thể hiện quyết tâm cao độ là “kiên quyết thực hiện bằng được đúng và tốt chế độ ba khoán: Khoán việc cho nhóm, cho lao động và cho hộ”.

    Người ta gọi đồng chí Kim Ngọc là “Cha đẻ của khoán hộ” chính là ở câu này. Ở nhiệm vụ thứ hai này rõ ràng Nghị quyết chỉ ra muốn tận dụng được hết mọi khả năng lao động của con người phải giao quyền quyết định cho con người, phải thực hiện giao khoán cho nhóm hoặc cho lao động hoặc cho hộ gia đình. Đó là ba cách giao quyền tự chủ cho con người. Đó cũng là ba cách phát huy khả năng sẵn có của nhóm, của cộng đồng, của cá nhân, của mỗi gia đình. Đó chính là nét nổi bật của tư duy đổi mới. Đó cũng là sự sáng tạo, sự cống hiến lớn lao của Nghị quyết. Giao khoán chính là giao quyền chủ động, giao quyền tự chủ, tự quyết định cho con người để họ tự lao động sản xuất, tự sáng tạo. Giao khoán cũng chính là phát huy, tận dụng được hết mọi khả năng, mọi tiềm năng sẵn có của mỗi con người để từ đó họ tự khẳng định mình, tự quyết định sứ mệnh của mình trước cuộc sống.

    Nhiệm vụ thứ ba: 

    “3- Tích cực cải tiến công cụ lao động sản xuất trang bị cơ khí nhỏ nhằm không ngừng xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, sử dụng hợp lý, tiết kiệm sức lao động và tăng năng suất lao động trong nông nghiệp.”

    Nhiệm vụ thứ ba đã chỉ rõ mối quan hệ giữa con người với công cụ lao động sản xuất. Con người phải thường xuyên chú trọng tới kĩ năng, kỹ thuật lao động, sức lao động và công cụ lao động. Công cụ lao động phù hợp, thường xuyên được cải tiến, tiến dần tới hiện đại hóa thì tăng năng suất lao động sẽ ngày càng cao. Đó là quy luật của mối quan hệ giữa con người với công cụ lao động hàng ngàn năm nay được đúc rút thể hiện trong Nghị quyết.

    Nghị quyết đã khẳng định vị trí vai trò của công cụ, của tư liệu sản xuất, của khoa học kỹ thuật trong việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm sức lao động con người và tăng năng suất lao động. Đây cũng là một bài học sâu sắc về con người phải “tích cực cải tiến công cụ lao động sản xuất… không ngừng xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật”, phải coi khoa học kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu để tăng năng suất lao động.

    Nhiệm vụ thứ tư: 

    “4- Phải xác định đúng đắn thái độ lao động, nghĩa vụ lao động cho từng loại lao động, đảm bảo huy động sử dụng được hết khả năng người, ngày, giờ, kỹ năng lao động của xã viên phục vụ thâm canh tăng năng suất.”

    Thái độ lao động là ý thức, là cách nhìn nhận, là quan niệm, là tình cảm của con người về lao động và người lao động. Nghĩa vụ lao động là trách nhiệm của mỗi con người trước một công việc được giao. Chỉ khi có thái độ lao động đúng đắn, nghĩa vụ lao động cụ thể, con người mới thể hiện rõ khả năng lao động sáng tạo của mình.

    Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống duy nhất, là niềm vui, hạnh phúc của con người.”. Nhiệm vụ thứ tư đã vận dụng rất linh hoạt lời dạy trên của Bác để đưa vào Nghị quyết với yêu cầu cao: “Phải xác định đúng đắn thái độ lao động, nghĩa vụ lao động cho từng loại lao động”, để mỗi con người tự giác, tự hiểu vị trí vai trò của lao động, tự giác thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm của mình trước công việc lao động.

    Nhiệm vụ thứ tư tiếp tục nêu rõ “đảm bảo huy động, sử dụng được hết khả năng người, ngày, giờ, kỹ năng lao động của xã viên phục vụ thâm canh tăng năng suất”.

    Chúng ta thấy huy động, phát huy, sử dụng được hết khả năng của từng người trong từng ngày, từng giờ gắn với kỹ năng lao động thành thục là yếu tố quyết định cho tăng năng suất lao động nhằm tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội là một tư duy mới, là một sáng tạo mới của Nghị quyết 68.

    Nhiệm vụ thứ năm:

    “5- Phải giải quyết một số vấn đề có liên quan đến việc sử dụng hợp lý sức lao động nông nghiệp và tăng năng suất lao động nông nghiệp.”

    Nhiệm vụ thứ năm nói rõ mối liên quan giữa lao động, sử dụng lao động, sức lao động với năng suất lao động và tăng năng suất lao động. Mục đích của lao động là sử dụng hợp lý sức lao động để tạo ra năng suất và tăng năng suất. Đó cũng là cách nhìn mới của Nghị quyết 68 về mối quan hệ nêu trên.

    Nhiệm vụ thứ sáu:

     "6- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, các ngành đối với công tác quản lý lao động nông nghiệp.”

     Nghị quyết 68 đã coi 5 nhiệm vụ trên là 5 thành tố của công tác quản lý lao động. Nghị quyết yêu cầu các cấp ủy Đảng, các ngành, các tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phải thường xuyên quan tâm tới triển khai, tổ chức thực hiện, kiểm tra đôn đốc, phân loại đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm. Nhiệm vụ thứ 6 là nhân tố quyết định cho sự thành công của Nghị quyết 68.

     Nghị quyết 68 ngày 10-9-1966 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay” do Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc chủ động khởi xướng đã đem một luồng sinh khí mới cho tất cả các ngành sản xuất đặc biệt là cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân Vĩnh Phúc. Nghị quyết vừa ra đời đã được toàn Đảng, toàn dân Vĩnh Phúc hoan nghênh, đón đợi và thực hiện có hiệu quả cao trên địa bàn toàn tỉnh.

     Giá trị, ý nghĩa của Nghị quyết đã vượt ra khỏi những vấn đề về quản lý lao động nông nghiệp. Giá trị to lớn, ý nghĩa sâu sắc của Nghị quyết là ở chỗ Nghị quyết đã giúp cho chúng ta nhận rõ chân giá trị của con người, khẳng định con người là trung tâm, con người là yếu tố quyết định của thành công, đề cao vị trí, vai trò của con người với mọi tiềm năng hiện có. Chỉ khi giao quyền tự chủ, tự quyết định, tự lao động sáng tạo, tự thấy rõ vị trí vai trò, ý nghĩa của lao động và sáng tạo con người mới vươn lên quyết định làm chủ được vận mệnh sự sáng tạo trong cuộc đời mình. Nghị quyết đã nêu một bài học lớn các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, các tổ chức xã hội phải luôn tôn trọng, phải biết phát huy mọi khả năng, mọi tiềm năng của con người, phải thường xuyên chú trọng, đổi mới tư duy, cải tiến phương tiện kỹ thuật khoa học công nghệ.

    Tư duy đổi mới, sáng tạo của Nghị quyết 68 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc chính là tư duy đổi mới đầy sáng tạo của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc. Tư duy đó ngày nay được vận dụng ở tất cả các cấp, các ngành, các nghề, ở tất cả các tầng lớp nhân dân lao động, ở mỗi con người Việt Nam. Kim Ngọc - tư duy đổi mới đầy sáng tạo của ông sẽ tỏa sáng mãi trong trái tim mỗi người dân Vĩnh Phúc và những người biết kính trọng, ngưỡng mộ những cống hiến to lớn của ông cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.

Nguyễn Đức Tẩm 
Nguyên ủy viên BTV, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Phúc